Tác giả Chủ đề:  Các lăng tẩm nổi tiếng của triều Nguyễn tại Huế  (Đã xem 7841 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Đã thoát ra tuyenhuynhvan

  • Xa mẹ lần đầu
  • Bài viết: 12
Các lăng tẩm nổi tiếng của triều Nguyễn tại Huế
« vào: Tháng Một 10, 2017, 09:45:56 AM »
Có thể nói ngoài bề dày lịch sử của mảnh đất thần kinh (kinh thành Huế), các lăng tẩm là một thành phần quan trọng và độc đáo làm nên di sản văn hóa cố đô Huế. Cùng với các chùa chiền và các cảnh đẹp tự nhiên, những lăng tẩm đã tạo nên các điểm du lịch ở Huế nức tiếng [nofollow]. Nếu đã đến xứ Huế, ít ai lại không có một lần viếng thăm lăng mộ những Hoàng đế nhà Nguyễn.

Những lăng tẩm ở Huế gắn với sự thăng trầm của chiếc ngai triều Nguyễn ( từ 1802 đến 1945). Trải qua 13 đời vua, nhưng bởi các lý do lịch sử khác nhau mà hiện nay chỉ còn 7 khu lăng mộ theo thứ tự thời gian từ trước đến nay: Lăng Gia Long (Thiên Thụ Lăng), Lăng vua Minh Mạng (Hiếu Lăng), Lăng vua Thiệu Trị (Xương Lăng), Lăng Tự Đức (Khiêm Lăng), Lăng Dục Đức (An Lăng), Lăng Đồng Khánh (Tư Lăng) và Lăng Khải Định (Ứng Lăng). Nếu đứng từ vị trí trung tâm của Cố đô, 7 khu lăng tẩm này đều nằm ở hướng Tây của kinh đô Huế, đó là biểu tượng của “Thái dương Tây hạ” (Mặt Trời lặn phía Tây) – tức là chỉ việc thăng hà của bậc Chí tôn.

Theo quan điểm xưa “Thứ nhất dương cơ, thứ 2 âm phần”, việc xây cất quan yếu sau cung điện là lăng mộ. trong khoảng thời Lý về trước, lăng mộ của các vua rất thuần tuý, nay chỉ còn dấu tích ít oi. trong khoảng đời trần, Lê về sau, mỗi vua sở hữu 1 lăng riêng, nhưng tẩm thì thờ chung. đến thời Nguyễn, quốc khố hưng vượng vượng, các vua mới với lăng mộ tuyển mộ lớn thờ riêng từng người.
Thuật phong thủy là nhân tố phải tuân thủ triệt để trong kiến trúc lăng mộ Huế. sở hữu ý kiến “Tức vị trị lăng”, ngay khi tại vị, vua đã cho tiến hành khảo sát địa thế, lập đồ án xây dựng lăng mộ cho mình. những quan ở Khâm Thiên Giám, bộ Lễ, bộ Công đi tìm cuộc đất, ngày khởi công, trình đồ án kiến trúc cho vua ngự chuẩn y.

Khu lăng tẩm nào cũng chia làm hai phần chính: tẩm và lăng. Phần lăng chính là nơi táng thi hài vua; phần tẩm chính là hành cung nơi vua thực hiện công việc, sinh hoạt, giải trí, kiến trúc theo kiểu như hoàng cung. Vua ngự giá đến đây để tiêu khiển, ngắm cảnh, đọc thơ, nhìn sinh phần của mình mà ý thức rằng dương gian tạm thời, đời con người chóng đi qua như giấc mơ.

Cùng quan điểm “Sống gửi thác về”, lăng tẩm là hoàng cung vĩnh hằng của các vị vua. Vì thế trong toàn bộ những lăng mộ đều trang hoàng vô khối hoa văn các chữ “thọ”, “hỷ”, hình ảnh nước non thân quen, những bức họa sinh động để không có cảm giác chết chóc, nặng nề

Ngoài sông, núi, khe, hồ của khi không là lầu, đài, đình, tạ hoặc đắp thêm núi đất khiến cho án, chẩm; hoặc đào thêm hào, khe làm cho huyền thủy… hình thành nên các tòa lăng tẩm mang kiến trúc đặc sắc, cảnh quan phối hợp, hùng vĩ mà thơ mộng. phần đông những lăng đều nằm trên Các đồi cỏ mượt với các cây thông xanh, cổ thụ um tùm phản bóng xuống mặt hồ im ắng.
Nhìn xung quanh không gian to lớn mới thấy hết được nét hoành tráng của các lăng và mối liên hệ với những thật thể địa lý xa tới vài chục cây số.

Lăng Gia Long có diện tích hơn 20ha, toạ lạc trên ngọn núi Thiên Thụ, có núi án là Đại Thiên Thụ, xung quanh có 36 ngọn núi chầu vào. Lăng tẩm này do thầy phong thủy Lê Duy Thanh tìm ra địa cuộc. Đích thân vua Gia Long cưỡi voi đi dò xét trước khi duyệt y. Lăng vua Minh Mạng rộng khoảng 15ha, ngự trên núi Cẩm Kê (Hiếu Sơn), có núi Kim Phụng chầu, toàn lăng giống như một người đang nằm gối lên đồi cao, chân tay giạng ra phía ngã ba sông. Lăng Gia Long còn gọi là Thiên Thọ Lăng, bắt đầu được xây dựng trong khoảng năm 1814 và đến năm 1820 mới hoàn thành. Lăng thật ra là một quần thể nhiều lăng tẩm trong hoàng thất. Đa số khu lăng này chính là một quần sơn có 42 đồi, núi to nhỏ, trong số đó có Đại Thiên Thọ là ngọn núi lớn nhất được chọn làm tiền án của lăng này và còn là tên gọi của cả quần sơn này.

Lăng vua Minh Mạng hay còn gọi là Hiếu Lăng bởi vị vua Thiệu Trị cho xây dựng từ năm 1840 tới năm 1843 để chôn cất cho vua cha Minh Mạng. Lăng ngự ở trên ngọn núi Cẩm Khê, kế bên ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách kinh thành Huế 12 km.

Lăng Thiệu Trị còn được gọi là Xương Lăng, ngự ở địa phận thôn Cư Chánh, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy. Lăng được vua Tự Đức cho xây dựng vào năm 1847 để mai táng vua cha Thiệu Trị. Nếu đem so với lăng mộ những vua tiền nhiệm và kế vị, lăng Thiệu Trị có những nét riêng. Đây là lăng độc nhất quay mặt về hướng Tây Bắc, một hướng ít được sử dụng trong lối kiến trúc cung điện và lăng tẩm thời Nguyễn.

Lăng vua Tự Đức còn gọi là Khiêm Lăng, được chính vua Tự Đức cho vun đắp lúc còn tại vị, là một quần thể dự án kiến trúc trong đó mang nơi an táng vua, tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh cũ, hiện nay là thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, Huế. Khi mới xây dựng, lăng này có tên là Vạn Niên Cơ, sau cuộc nổi dậy Chày Vôi, vua Tự Đức liền đổi tên thành Khiêm Cung. Sau khi Tự Đức mất, lăng được đổi tên lại là Khiêm Lăng. Lăng mang kiến trúc cầu kỳ, cảnh sức sơn thủy hữu tình và cũng là một trong các lăng mộ hấp dẫn nhất của thời vua chúa nhà Nguyễn.

Lăng vua Đồng Khánh còn được gọi là Tư Lăng, tọa lạc giữa một vùng nông thôn thuộc làng Cư Sĩ, xã Dương Xuân (hiện nay là thôn Thượng 2, huyện Thủy Xuân, Huế). Lăng này trước đây là điện Truy Tư được vua Đồng Khánh xây dựng để thờ vua cha là Kiên Thái Vương. Khi vua Đồng Khánh lâm bệnh và đột ngột từ trần, vua Thành Thái (1889-1907) lên kế vị trong hoàn cảnh quốc gia gặp nhiều trắc trở, kinh tế suy kiệt nên không thể xây dựng lăng mộ quy củ cho vua tiền nhiệm, phải lấy điện truy Tư đổi làm Ngưng Hy để thờ vua Đồng Khánh.

Lăng vua Dục Đức tên tự An Lăng, tọa lạc ở thôn Tây Nhất, làng An Cựu, phường An Cựu, thành phố Huế; cách trung tâm thành phố chưa đầy 2km. Nơi đây là nơi chôn cất của ba ông vua nhà Nguyễn: Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân. Dục Đức lên trị vì năm 1883 được 3 ngày thì đã bị truất phế và mất, về sau con ông là vua Thành Thái (lên ngôi năm 1889) cho xây lăng để thờ cúng vua cha và đặt tên là An Lăng. Năm 1954, khi Thành Thái mất, thi hài được chuyển về chôn tại địa điểm ngày nay trong khu vực An Lăng và được thờ tại ngôi điện Long Ân. Năm 1987, thi hài vua Duy Tân được mang về chôn cất cạnh lăng vua Thành Thái.

Lăng vua Khải Định hay còn gọi là Ứng Lăng, ngự trên triền núi Châu Chữ (hay còn gọi là Châu Ê) bên ngoài kinh kì Huế là lăng mộ của Khải Định, vị vua thứ 12 của triều Nguyễn. Lăng này được xây dựng trong khoảng năm 1920 ngay sau lúc Khải Định lên ngôi. Nói về kiến trúc lăng vua Khải Định hay được người đời sau thường đặt ra ngoài mẫu kiến trúc truyền thống thời Nguyễn vì sự pha trộn kiến trúc Đông Tây lạ lùng, cùng các tác phẩm nghệ thuật ghép tranh sành sứ độc đáo.

Với những chia sẻ kể trên hy vọng bạn sẻ có được những cái nhìn tổng quan về những lăng tẩm ở thành phố Huế.
 


Tags: du lich hue 
 

Related Topics

  Tiêu đề / Tác giả Trả lời Bài mới
0 Trả lời
2088 Lượt xem
Bài mới Tháng Tám 15, 2008, 11:57:10 PM
Gửi bởi khidotdh88
0 Trả lời
2105 Lượt xem
Bài mới Tháng Mười Một 18, 2010, 04:51:01 PM
Gửi bởi dulich
0 Trả lời
2966 Lượt xem
Bài mới Tháng Tám 10, 2011, 03:13:20 PM
Gửi bởi ttxtdlbentre
1 Trả lời
2306 Lượt xem
Bài mới Tháng Sáu 16, 2012, 02:23:53 PM
Gửi bởi dmzbarhue
4 Trả lời
2610 Lượt xem
Bài mới Tháng Mười 09, 2013, 12:12:23 PM
Gửi bởi homewaxkitlyo
0 Trả lời
3802 Lượt xem
Bài mới Tháng Chín 07, 2013, 09:09:26 AM
Gửi bởi naomingocnhu
2 Trả lời
1925 Lượt xem
Bài mới Tháng Chín 12, 2013, 06:28:54 PM
Gửi bởi danseoit
0 Trả lời
1788 Lượt xem
Bài mới Tháng Mười 19, 2016, 04:10:29 PM
Gửi bởi tamtran234
0 Trả lời
1023 Lượt xem
Bài mới Tháng Sáu 03, 2020, 10:40:50 AM
Gửi bởi duc.goldenage
0 Trả lời
381 Lượt xem
Bài mới Tháng Bảy 15, 2021, 06:09:33 PM
Gửi bởi Adventure Journey

Vui lòng tắt chặn quảng cáo (uBlock, AdBlock, Adblock Plus Adblock Pro, Ghostery ...) để giúp chúng tôi có nguồn kinh phí duy trì hoạt động. Chân thành cảm ơn!

Thông tin đăng nhập

 
 
Chào Bạn. Bạn có thể đăng nhập hoặc đăng ký.

Đối tác

Topo.vn - Địa điểm du lịch

Có thể bạn quan tâm

Đối tác


Mobile View
SimplePortal 2.3.7 © 2008-2021, SimplePortal